bài viết trong chuyên mục "quy hoạch đô thị"

15 căn nhà kỳ quặc nhất hành tinh an toàn xây dựng Auckland bài trí phòng ăn bàn làm việc bản vẽ thiết kế nhà xưởng bất động sản bí quyết trang trí phòng ngủ biệt thự biệt thự trăm triệu đô bill gates bố trí cửa nhà bố trí nhà bộ xây dựng cách bố trí nhà ở cách chọn tủ bếp cách hóa giải nhà cách mua nội thất căn hộ nhỏ căn nhà kỳ quặc Câu lạc bộ Kiến trúc Xanh cầu thủ thiêm 2 cấu trúc bê tông cây xanh cháy công ty nội thất chất lượng quy hoạch chi phí chọn đồ nội thất chọn nhà thầu xây dựng chọn nội thất chống thấm chung cư công trình kiến trúc công trình xây dựng công ty kiến trúc công ty nội thất công ty nội thất Lợi Phát công ty thiết kế dự án dự toán đất hình tam giác đo vẽ địa hình đọc bản vẽ thiết kế đồng bộ thiết kế thi công nội thất đơn vị tư vấn thiết kế festival kiến trúc festival kiến trúc thế giới 2015 giám sát thi công giấy phép xây dựng giếng trời giếng trời trong phong thủy giường ngủ giường ngủ tự nhiên hạ tầng cảnh quan hành nghề xây dựng hình nhà đẹp hoàn công xây dựng hồ bơi đẹp hồ bơi nổi bật hồ sơ hoàn công Hội thảo Kiến trúc Xanh Lần 6 hợp đồng karaoke kệ sách kết cấu nhà công nghiệp khảo sát địa chất Không gian mở không gian nội thất kiến thức xây dựng kiến trúc kiến trúc nội thất kiến trúc xanh Kiến trúc xanh Việt Nam kiến trúc xây dựng kinh nghiệm mua giường ngủ lắp dựng nhà thép tiền chế lập dự toán liện hệ lĩnh vực xây dựng lối đi trong nhà Lợi ích khi thiết kế nhà xưởng bằng khung thép Luật Xây dựng năm 2014 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 lưu ý khi sửa nhà màu sắc màu sắc nội thất mua tủ bếp nghề kiến trúc ngôi nhà tre ngôi nhà vườn nguyên tắc thiết kế Nguyên tắc thiết kế nội thất nhà diện tích nhỏ nhà đẹp nhà gương nhà kính ở Italy nhà ống nhà ở nhà ở gia đình nhà phố nhà thầu xây dựng nhà thép tiền chế nhà thép tiền chế là gì nhà thiết kế nội thất nhà vườn nhà xưởng nhà xưởng công nghiệp nội thất nội thất chung cư nội thất cổ điển nội thất phòng khách nội thất phòng ngủ nội thất trần nhà thấp phòng bếp phong cách á đông phong cách tây ban nha phòng chống mối phòng làm việc tại nhà phòng ngủ phòng ngủ rộng phong thủy phong thủy phòng tắm Pool house quản lý dự án quy hoạch chi tiết quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000 quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 quy hoạch đô thị quy hoạch xây dựng rèm cửa sắp xếp nội thất sân vườn shop Siegfried Giedion spa shop sử dụng màu sắc sửa nhà Tháp Eiffel The Landmark81 thi công biệt thự thi công chung cư thi công nhà ở giá rẻ thi công nhà phố thi công nhà thép tiền chế thi công nhà tiền chế thi công nhà xưởng thi công nội thất thi công văn phòng thi công xây dựng thi công xây dựng biệt thự thi công xây dựng chung cư thi công xây dựng nhà phố thi công xây dựng nhà xưởng thi công xây dựng văn phòng Thị trấn Cochem thị trường bất động sản thiết kế thiết kế bếp thiết kế biệt thự thiết kế cảnh quan thiết kế công trình thiết kế công trình xây dựng thiết kế cơ điện lạnh thiết kế cửa sổ thiết kế đô thị thiết kế giếng trời thiết kế kệ sách thiết kế kết cấu thiết kế kiến trúc thiết kế kiến trúc đẹp thiết kế lối đi thiết kế nhà thiết kế nhà nhỏ thiết kế nhà nhỏ hợp lý thiết kế nhà phố thiết kế nhà thép tiền chế thiết kế nhà xưởng thiết kế nhà xưởng bằng khung thép thiết kế nội thất thiết kế nội thất căn hộ cao cấp thiết kế nội thất chung cư thiết kế nội thất karaoke thiết kế nội thất nhà hàng thiết kế nội thất phòng bếp thiết kế nội thất phòng ngủ thiết kế nội thất văn phòng thiết kế phòng bếp thiết kế phòng khách thiết kế phòng làm việc tại nhà thiết kế phòng ngủ thiết kế sân vườn thiết kế thi công nội thất thiết kế thi công xây dựng thiết kế tối ưu thiết kế tủ bếp thiết kế văn phòng thiết kế xây dựng thiết kế xây dựng nhà ở thiết nội thất thung lũng Moselle tiết kiệm chi phí xây nhà tin tức tọa bắc hướng nam tòa nhà văn phòng bằng gỗ trang trí kiến trúc trang trí nhà trang trí nội thất trang trí phòng ăn trang trí phòng ngủ trang trí phòng tắm trang trí văn phòng làm việc trần nhà thấp trần thạch cao trình tự xây dựng nhà trung tâm cộng đồng tủ bếp tủ đầu giường tủ quần áo tư vấn đầu tư tư vấn giám sát tư vấn giám sát thi công tư vấn kiến trúc tư vấn nội thất tư vấn thiết kế tư vấn thiết kế mặt bằng tư vấn xây dựng tường kính ứng dụng của nhà thép tiền chế văn phòng văn phòng bằng gỗ vật liệu xây dựng Vingroup Vinhomes Central Park Võ Trọng Nghĩa xây cầu thủ thiêm 2 xây dựng xây dựng kiến trúc xây dựng nhà xây dựng nhà ở xây dựng nhà phố xây dựng nhà xưởng xây dựng spa xây nhà xin phép thi công xây dựng xin phép xây dựng xu hướng nội thất ý tưởng thiết kế nội thất ý tưởng thiết kế nội thất phong cách nam tính yêu cầu cơ bản thiết kế nội thất
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch đô thị. Hiển thị tất cả bài đăng

Chất lượng của các không gian công cộng (KGCC) hiện nay quyết định một phần không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của mọi người dân trong thành phố; vì những không gian này là một trong các thành phần chức năng thiết yếu, quan trọng để đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn, vui chơi, giải trí, sinh hoạt cộng đồng và tương tác xã hội.

Tuy nhiên, so với những thành phần chức năng khác, trong lĩnh vực quy hoạch, thiết kế và quản lý đô thị thì KGCC chưa được nghiên cứu, mổ sẻ thấu đáo, và cũng chưa có những quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các hướng dẫn về phương pháp làm cơ sở cho công tác quy hoạch, thiết kế thực tiễn. Có lẽ (một phần) từ những nguyên nhân trên, mà các KGCC nói chung và không gian vui chơi giải trí trong các khu dân cư nói riêng ở các đô thị nước ta hiện đang thiếu thốn trầm trọng. Số lượng còn thiếu thốn như vậy thì khoan hãy bàn đến chất lượng của các KGCC. Các vườn hoa, sân chơi, nếu có, chỉ là những khoảng trống với vài khuôn cỏ trồng cây sơ sài, với vài chiếu ghế đã đúc sẵn gẫy chân hoặc mất chỗ tựa, hết sức nhạt nhẽo buồn tẻ thiếu sức sống. Công tác quản lý những KGCC này cũng còn nhiều khó khăn và tồn tại, rất cần một hành động thiết thực và cụ thể trong công tác quy hoạch và quản lý KGCC từ lý luận đến công tác triển khai thực hiện.

khong-gian-cong-cong-trong-do-thi-tu-ly-luan-den-thiet-ke

Hồ Hoàng Cầu, Hà Nội

KGCC – tiếp cận từ góc độ chính trị – xã hội

Bản thân KGCC là một khái niệm phức tạp, đa chiều và không có một định nghĩa chung, phổ quát toàn cầu về nó. ‘KGCC’ được tạo ra, được sử dụng, được gán nghĩa, được quản lý, và được tái sinh do các nhu cầu chính trị – kinh tế – xã hội của các thể chế xã hội khác nhau, ở các không gian và tại thời gian khác nhau, bị chi phối bởi các hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau.

Nguồn gốc của KGCC, theo cách nhìn của phương Tây, liên quan đến khái niệm ‘quyền tiếp cận và loại trừ tới các không gian đó. Trong các mô hình xã hội dân chủ, nhà nước cần thiết lập những không gian mà ở đó tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận bất luận địa vị xã hội hay điều kiện kinh tế, và quyền này được bảo vệ bởi hiến pháp và pháp luật. Đó là những không gian thực sự là của chung, của tất cả mọi người – các KGCC. Agora trong cấu trúc đô thị Hy Lạp cổ đại là ví dụ đầu tiên về loại KGGG này. KGCC vì vậy, có thể coi là một ‘công cụ vật lý’ để nhà nước dân chủ thực hiện trách nhiệm của họ với xã hội và cũng thông qua đó tương tác với xã hội. Đương nhiên, các thể chế xã hội khác nhau, thuộc các giai đoạn lịch sử khác nhau thì các ‘quyền’ tiếp cận đến các KGCC này cũng bị giới hạn và quy định theo cách thức và mức độ khác nhau: ai được vào, vào lúc nào, được phép làm gì trong các không gian đó. Các KGCC vì vậy cũng được thiết kế, gán chức năng, gán nghĩa và quản lý tiếp cận theo cách thức riêng biệt, tương ứng. Quảng trường nơi diễn ra những sự kiện chính trị, xã hội quy mô lớn, với nghi thức chuẩn mực, hoành tráng là ví dụ điển hình của loại KGCC chính thống này. Công viên cũng được xem là một KGCC chính thống để đảm bảo quyền lợi được nghĩ ngơi thư giãn, tiếp cận thiên nhiên các các đối tượng xã hội.

Như vậy, khi tiếp cận khái niệm KGCC từ góc độ thể chế, một cách đơn giản nhất, chúng ta có thể xem KGCC là một đối tượng không gian chính quy, thiết yếu trong cấu trúc không gian đô thị, một dạng ‘cơ sở hạ tầng’ với hai ý nghĩa: cơ sở hạ tầng chính trị và cơ sở hạ tầng xã hội. CSHT chính trị (thực hiện chức năng cũng cố sự vận hành của nhà nước và thể chế, là ‘công cụ không gian’ duy trì mối quan hệ tương tác vật lý giữa nhà nước và xã hội (thông qua các sự kiện chính trị có tổ chức chính thống)) và (hoặc) CSHT xã hội (thực hiện chức năng đảm bảo các ‘quyền tiếp cận cơ bản) đến các dịch vụ đô thị của người dân được pháp luật quy định, và vì vậy thuộc trách nhiệm của nhà nước. Ở khía cạnh thứ hai này, nó tương tự nước sạch, y tế, giáo dục … là những tiện ích thiết yếu cơ bản của đời sống người dân mà nhà nước cần phải chịu trách nhiệm cung ứng.

Việc tạo lập các KGCC chính quy này được thực hiện thông qua công tác quy hoạch chính thống và được đầu tư, bản lý bởi nhà nước. Theo nguyên lý quy hoạch của các nước phương Tây, các KGCC này thường được tổ chức thành hệ thống, có tầng bậc và quy mô, được cung ứng từ cấp độ vùng, đến thành phố, đến khu vực, đến khu dân cư, và cho đến tận các nhóm nhà. Hai hình thức phổ biến nhất của hệ thống KGCC này là các quảng trường (quy mô khác nhau) và các công viên vườn hoa (cũng với quy mô khác nhau). Nguyên lý thiết kế cho các KGCC này cả về hình thái, thẩm mỹ, công năng đã được đúc kết thành những pho tri thức quy hoạch và TKĐT kinh điển, được vận dụng …

Lịch sử và sự hình thành các KGCC ở Việt Nam

Theo dòng lịch sử, các KGCC ở Việt Nam đã được hình thành, quan niệm và gán nghĩa như thế nào?
Thời phong kiến: Vào thời kỳ phong kiến, chính quyền phong kiến quyết định các vấn đề chung và có không gian quyền lực của nó. Cộng đồng như làng xã, phường hội, dòng tộc lại quyết định về những việc nội bộ của một nhóm người nên họ cũng có những không gian có chức năng hỗ trợ thể chế cộng đồng tương ứng. Làng là một mô hình quần cư truyền thống vô cùng đặc sắc của Việt Nam. Làng có thiết chế riêng, có hiệu lực mạnh mẽ vì nó đảm bảo tồn tại và vững mạnh của cả cộng đồng làng; vậy mới có câu “phép vua thua lệ làng”. Trong làng, trong phường hội, họ được quan tâm, giúp đỡ, bảo vệ và có trách nhiệm đối với người khác. Vì thế nhu cầu tỏ ra mình là người cùng hội cùng thuyền, có quan tâm, đóng góp cho cộng đồng là cấp thiết. Vì vậy, những không gian cộng đồng truyền thống như bến nước, cây đa đầu làng, sân đình, cổng làng, chợ làng, đường làng, các đình đền đài, hội quán, nhà thờ tổ v.v. đều được sử dụng rất hiệu quả và thường xuyên. Trong không gian cộng đồng này, mỗi cá thể xuất hiện ít khi dưới danh nghĩa cá nhân, mà dưới danh nghĩa là một bộ phận trong một cỗ máy chung. Họ lấy việc chứng tỏ phục tùng luật lệ chung làm lý do để xuất hiện trong không gian này. Những người ngoài có thể được chấp nhận vào các lễ hội, sự kiện cộng đồng, nhưng họ rõ ràng là khách và phải chấp nhận mọi luật lệ do chủ nhà đề ra. Tiêu chí của những không gian này không phải là việc phát huy tối đa sự tự do thoải mái của từng cá nhân, mà là làm rõ cấu trúc của cái chúng ta, để mọi người phải theo đó mà làm. Vì vậy, cũng có thể coi những không gian này là dạng không gian quyền lực, nhưng là một hệ thống quyền lực khác với hệ thống triều đình, một dạng KGCC chính thống phục vụ thiết chế làng xã. Hay, là một dạng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự tồn tại của cộng đồng trong thể chế phong kiến.

Thời Pháp thuộc: Người pháp lần đầu tiên đã đưa vào Việt Nam nhưng nguyên lý quy hoạch đô thị phương Tây với mạng lưới đường ô cờ vuông vắn, các trục không gian hoành tráng, những quảng trường trước các công trình lớn như phủ toàn quyền, ngân hàng, nhà hát nhằm phô trương quyền lực và sức mạnh vật chất – văn hóa của mình. Ngoài ra, một số công viên, vườn hoa được xây dựng, nhằm biểu dương cuộc sống vương giả của khu phố Pháp hơn là những không gian công cộng thực sự. Cho nên những KGCC này chính là những ‘cơ sở hạ tầng’ phục vụ người Pháp và chính quyền thuộc địa của Pháp mà thôi.

Thời kỳ xây dựng nhà nước XHCN: Bên cạnh những KGCC do người Pháp xây dựng, loại hình KGCC phổ biến nhất ở nước ta thời kỳ này là các quảng trường chính trị ở tất cả các thành phố, thường bố trí trước mặt tòa nhà UBND – HĐND, xung quanh là các công trình phục bộ máy hành chính địa phương như trụ sở các Sở, Ban, Ngành, Tòa án, Bưu điện, Ngân hàng công. Ở Hà Nội, có thể nói quảng trường Ba Đình là KGCC biểu tượng quyền lực của Nhà nước XHCN với sự hiện diện của Lăng Hồ Chủ tịch, Tòa nhà Quốc hội, và các tòa công thự khác. Ở đây Bác Hồ đã đọc bản tuyên ngôn độc lập, và cũng là nơi chỉ dành cho các sự kiện trọng đại, mitting, diễu hành tầm cỡ quốc gia. Trước đây người dân không được phép đi lại vui chơi tự do ở quảng trường Ba Đình và nó đúng nghĩa là một KGCC của chính quyền. Tuy nhiên gần đây và buổi tối người dân đã được phép dạo chơi thư giãn ở đây, mặc dù vẫn chịu sử quản lý theo dõi sát sao của lực lượng canh gác lăng.

Những quảng trường chính trị ở các thành phố khác cũng tương tự, thường được tạo ra phục vụ các sự kiện đại lễ chính thống do chính quyền địa phương tổ chức chứ không phát huy như các không gian phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí tự do của người dân, nên nhìn chung các không gian này thường vắng lặng khô cứng và thiếu sức sống xã hội. Nhiều nơi việc tiếp cận không gian uy nghiêm này bị hạn chế bằng hàng rào ngăn cách.

Thời kỳ này một số các khu dân cư mới đã được quy hoạch và xây dựng theo mô hình “tiểu khu” học từ Liên xô (là mô hình có sự vi chỉnh từ mô hình ‘đơn vị ở’ gốc của Clarence Perry thế kỷ IX). Ở Hà Nội điển hình loại này có các khu Trung Tự, Kim liên, Giảng võ, Thanh Xuân. Với nguyên lý quy hoạch khá rõ rệt, các KGCC, các công trình công cộng như trường học, nhà trẻ, sân chơi, vườn hoa thường được bố trí ở trung tâm khu dân cư hoặc tâm của các nhóm nhà. Mặc dù chất lượng các không gian này còn nhiều điều đáng bàn, nhưng về lượng và sự phân bố thì các sân chơi, vườn hoa này được quy hoạch khá hợp lý và vẫn phát huy cho đến tận bây giờ. Ngoài ra khoảng trống giữa các tòa nhà cũng đã phát huy thành những KGCC đa năng và rất quý đối với đời sống cộng đồng người dân.

Tuy nhiên, ngoài những khu dân cư được quy hoạch này ra thì ở tất cả các khu vực khác, KGCC như một loại cơ sở hạ tầng cũng đã bị bỏ qua; sự thiếu thốn các KGCC này cũng tương tự như sự thiếu thốn các cơ sở hạ tầng khác, như cấp thoát nước, chiếu sáng, thu gom rác thải, rất phổ biến ở các đô thị.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Sau đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, các thế lực thị trường đã xuất hiện và tham gia sâu rộng vào sự phát triển kinh tế – đô thị nói chung và sự nhào nặn nên các KGCC mới nói riêng. Những khu đô thị mới được đầu tư bởi khu vực tư nhân cung ứng nhà ở thương mại ra thị trường đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ từ cuối những năm 1990 cho tới tận bây giờ. Những khu ĐTM điển hình như Định Công, Linh Đàm, Trung Hòa – Nhân chính, Làng Quốc tế Thăng Long. Đặc điểm chung với những khu ĐTM này là nó đã được quy hoạch và kiến thiết một cách có bài bản và đồng bộ hơn các tiểu khu thuộc giai đoạn trước và hơn các khu dân cư tự hình thành khác trong thành phố, vì vậy ở đây các KGCC cũng đã được bố trí và đầu tư ở một mức độ nhất định và trở thành một phần trong chiến lược thu hút thị trường của các bất động sản này. Với các mô hình mới hơn nữa như Royal City, Times City, khi chức năng ở và chức năng thương mại dịch vụ vui chơi giải trí của toàn thành phố được tích hợp trong những “tiểu thành phố” mang thương hiệu của các tập đoàn thì KGCC ở những nơi này trở thành một dạng không gian bán công (quasi- public space) được quản lý bởi khu vực tư nhân, trực tiếp và gián tiếp phục vụ mục tiêu kinh doanh của tập đoàn.

Khái niệm KGCC trong các cơ sở pháp lý về quy hoạch, thiết kế và quản lý đô thị ở Việt Nam

Xem xét trên góc độ quản lý nhà nước, KGCC chưa được chính thức định nghĩa, đề cập hay quy định cụ thể gì trong hiến pháp, pháp luật nói chung và các quy chuẩn quy phạm kỹ thuật về quy hoạch kiến trúc nói riêng.

Quy chuẩn Quy hoạch xây dựng 2008 (hiện đang được điều chỉnh sửa đổi).

Chương II, Mục 2.3.1. Các khu chức năng đô thị khái niệm KGCC không được nhắc đến trực tiếp, nhưng có một câu nói về “Các khu vực xây dựng các khu cây xanh công viên, vườn hoa đô thị” là một trong các loại ‘khu chức năng’ trong đô thị. Điều này ám chỉ các KGCC, nhưng thể hiện là các KGCC có tính chất thiên nhiên (cây xanh vườn hoa) hơn là các KGCC mang tính chất xã hội.

Mục 2.4. Quy hoạch các đơn vị ở, trong đó có mục 2.4.1 Yêu cầu đối với quy hoạch các đơn vị ở: có nhắc đến “Quy hoạch các đơn vị ở phải đảm bảo cung cấp nhà ở và các dịch vụ thiết yếu hàng ngày (giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông cơ sở, văn hoá thông tin, chợ, dịch vụ thương mại, thể dục thể thao, không gian dạo chơi, thư giãn…) của người dân trong bán kính đi bộ không lớn hơn 500m nhằm khuyến khích sử dụng giao thông công cộng và đi bộ”. Ở đây, KGCC không được nhắc đến trực tiếp mà được nhắc đến gián tiếp bằng cụm từ “không gian dạo chơi, thư giãn”.

Mục 2.4.2. có quy định “Trong các nhóm nhà ở phải bố trí vườn hoa, sân chơi với bán kính phục vụ (tính theo đường tiếp cận thực tế gần nhất) không lớn hơn 300m” và “Đất cây xanh sử dụng công cộng trong đơn vị ở tối thiểu phải đạt 2m2/người trong đó đất cây xanh nhóm nhà phải đạt tối thiểu 1m2/người”.

Trong mục 2.5 Quy hoạch hệ thống các công trình dịch vụ đô thị, KGCC không có trong danh mục các công trình dịch vụ công cộng (gồm các loại chính là giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hóa và thương mại). Và do đó cũng không có quy định về định mức diện tích cho KGCC ở các cấp độ.
Tuy nhiên, mục 2.6 về Quy hoạch cây xanh đô thị, có mục 2.6.1 Hệ thống cây xanh đô thị: lại gộp các chức năng quảng trường, công viên, vườn hoa, vườn dạo … vào nhóm “Cây xanh sử dụng công cộng”và sau đó được quy định chỉ tiêu diện tích đầu người cho từng loại đô thị: đô thị đặc biệt trên 7m2/người, đô thị loại V trên 4m2/người.

Như vậy, trong hệ thống quy hoạch chính thống của Việt Nam chưa có khái niệm KGCC; đặc biệt không có sự khẳng định và trình bày rõ rệt về nguyên lý quy hoạch cho loại KGCC chính thống với tư cách là một hạ tầng chính trị, mặc dù trên thực tế các quảng trường chính trị vẫn được quy hoạch và tạo dựng khá hoành tráng.

Còn KGCC với tư cách là hạ tầng xã hội thì có được nhắc đến và có một số yêu cầu quy định sơ sài dưới hình thức của hệ thống không gian dành cho cây xanh. Có lẽ vì vậy mà các không gian này thường được trồng cỏ xanh ở mọi chỗ mọi nơi mà may mắn nó được vẽ ra. Việc thể hiện các KGCC này trên bản quy hoạch là các không gian xanh, và sau đó được triển khai thực hiện đúng như vậy, thành các bồn cỏ, vườn hoa, cây xanh, ở một góc độ nào đó là việc xử lý máy móc, phiến diện, và giảm đi rất nhiều hiệu quả sử dụng của không gian, vì nó không có mấy chức năng phục vụ sinh hoạt xã hội của người dân, ngoài mục đích tạo cảnh quan và làm mềm hiệu ứng thị giác.

Tuy nhiên, theo dòng lịch sử, các loại KGCC đã xuất hiện ở Việt Nam do những lý do chính trị xã hội và kinh tế, một cách vô thức hay hữu thức cho dù một cuộc nhận diện bài bản về mặt lý luận về khái niệm này chưa bao giờ được đưa ra một cách chính thức. So với phương Tây, việc sử dụng KGCC như một “công cụ” tương tác giữa nhà nước và xã hội, hay quan niệm đầy đủ về nó như một loại cơ sở hạ tầng xã hội, một ‘hàng hóa công’ cũng chưa thực sự rõ ràng.

khong-gian-cong-cong-trong-do-thi-tu-ly-luan-den-thiet-ke

Không gian công cộng trong khu ĐTM, Hà Nội

KGCC là một “sân khấu” của đời sống xã hội – tiếp cận từ góc độ xã hội

Khác với cách tiếp cận về KGCC từ góc độ thể chế, KGCC tiếp cận từ góc độ xã hội được xem là các không gian cho phép thoả mãn nhu cầu tương tác, chia sẻ, gặp gỡ, giải trí, tìm kiếm sự thư giãn thoải mái của các cá thể trong xã hội trong sự hoà mình vào xã hội. Sự tụ tập ở đây là do các cá thể tự nguyện đến và gặp nhau. Các KGCC này có thể nhận bất cứ hình thức gì, nó có thể là một công viên, một quán trà hoặc café dân dã hay thậm chí là một vỉa hè, một khoảng trống giữa các công trình và không liên quan đến hình thức sở hữu cũng như hình hài của không gian đó. Ở đây, vấn đề không phải là ‘quyền’ mà là ‘sự thỏa mãn’ nhu cầu của người sử dụng. Với loại KGCC này, yếu tố ‘xã hội’ trở thành cốt tủy của không gian: là môi trường cho các sinh hoạt, tương tác của đời sống xã hội được diễn ra. Những KGCC có tính chất này có thể gọi là các không gian dân sự, hay không gian xã hội, hay các KGCC phi chính quy để phân biệt với các KGCC chính quy theo nghĩa ‘cơ sở hạ tầng’như trong cách tiếp cận thể chế ở trên. Việc phát triển các KGCC không gian công cộng loại này không bắt buộc theo pháp luật, nhưng rất đáng khuyến khích vì nó làm tăng sức sống, độ hấp dẫn của đô thị.
‘Đời sống xã hội’ là phần quan trọng nhất của KGCC loại này, cho nên việc quy hoạch và thiết kế những KGCC này không đơn giản là đảm bảo chỉ tiêu diện tích và tạo hình 3D cho không gian mà phải tạo ra một môi trường cho đời sống xã hội thực sự diễn ra.

KGCC có tiềm năng đặc biệt trong việc thỏa mãn nhu cầu giao lưu chia sẻ của con người trong xã hội, nhu cầu thuộc về. Nếu trẻ em có thể chơi đùa với nhau, nếu người lớn cho chỗ ngồi quan sát trẻ em chơi và trò chuyện, nếu thanh niên có chỗ đá bóng và đá cầu, người già có chỗ chơi cờ, đi dạo, ngồi thư giãn ngắm cảnh, nếu chị em phụ nữ có không gian tập thể dục nhịp điệu, các nhóm trung niên có thể tập thái cực quyền hay khiêu vũ trong KGCC ở các khu dân cư thì chắc chắn mối quan hệ cộng đồng ở khu dân cư sẽ rất gắn bó, khăng khít, và bản thân họ sẽ rất gắn bó với KGCC đó. Cảm giác thuộc về cộng đồng ấy, nơi chốn ấy sẽ dần được hình thành.

Ở phương Tây khi thiết kế các KGCC người ta luôn tạo cơ hội cho người sử dụng chủ động bộc lộ mình: những không gian thách thức cho những người ưa mạo hiểm, những không gian tương tác với nước cho trẻ em, nhưng bề mặt được phép grafiti cho những người yêu hội họa đại chúng, các không gian cho phép các nghệ sĩ đường phố biểu diễn và cho phép mọi người thưởng thức … tất cả là nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng “bộc lộ” mình, thỏa mãn nhu cầu cao nhất là được “thể hiện” bản thân (tầng nhu cầu thứ 5) và nhận được sự tán thưởng, ngưỡng vọng từ người khác (tầng nhu cầu thứ 4). Trong cách thiết kế KGCC ở phương Tây, việc tạo cơ hội và lôi kéo người sử dụng hoạt động (tham gia chủ động) và cơ hội quan sát, theo dõi (tham gia thụ động) được đặc biệt chú trọng. Do vậy, các giải pháp thiết kế thường là phức hợp, đa năng, linh hoạt: các bậc cấp vừa có thể là chỗ ngồi vừa có thể là lối đi lên xuống. Các không gian không bao giờ chỉ là đơn năng mà luôn được tính đến yếu tố đa năng.

Những khoảng trống giữa lý luận và thực tiễn

Có rất nhiều bài học có thể được rút để thu gọn những khoảng trống lớn giữa công tác lý luận về KGCC trên thế giới và ở Việt Nam, giữa công tác lý luận và công tác thực hành quy hoạch – thiết kế không gian, giữa sản phẩm không gian thực thể và sinh hoạt xã hội trong không gian.

Do có nhiều cách tiếp cận khái niệm KGCC, và khái niệm này liên tục được định nghĩa và tái định nghĩa dưới nhiều góc độ. Mỗi xã hội có cách nhìn nhận, tái sinh và sử dụng KGCC theo những cách rất khác nhau, nên việc tổ chức, thiết kế, tạo dựng KGCC vì vậy không đơn giản và không thể theo khuôn mẫu. Ở Việt Nam, thứ nhất, cần có những nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn về KGCC từ các cách tiếp cận khác nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa để cung cấp các cơ sở lý thuyết cho công tác quy hoạch và thiết kế thực tiễn.

Ở cấp độ tổng thể:

Trong hệ thống quy hoạch đô thị chính quy, cần xác định và củng cố vai trò của hệ thống KGCC chính quy như một loại cơ sở hạ tầng chính trị – xã hội thiết yếu, có chỉ tiêu và nguyên lý thiết kế phù hợp, và các các loại và KGCC phi chính quy nhằm đảm bảo yếu tố đầu tiên là “lượng” đối với KGCC. Cần lưu ý: Không gian cây xanh là KGCC nhưng KGCC không chỉ là không gian cây xanh, vườn hoa, mặt nước. Vì vậy cần thoát ly khỏi nếp tư duy hẹp trong quy hoạch và thiết kế KGCC ở nước ta: cứ KGCC là tô màu xanh và khi xây nên thì thành các ô trồng cỏ không mấy tác dụng.
Chúng ta có thể biến KGCC và hệ thống KGCC trở thành một bộ phận không thể thiếu, tạo thành bản sắc của đô thị. Khi đó, chúng sẽ được bảo tồn cho tất cả mọi người bởi tất cả mọi người. Hướng đi này mở ra xu hướng nghiên cứu rất rộng, đa ngành và linh hoạt về không gian công cộng. Điều quan trọng nhất là phải nắm được cái thần, cái tổng thể của cả đô thị chứ không bị chia xẻ vụn vặt ra thành những không gian rời rạc.

Ở cấp độ cụ thể

Để cải thiện “chất lượng” KGCC và xóa bỏ những bất hợp lý trong các KGCC, để KGCC phục vụ tốt nhất cho xã hội, cần có một sự thay đổi tư duy thiết kế, lấy việc nghiên cứu phân tích khảo sát nhu cầu đa dạng của các nhóm người sử dụng không gian và các sinh hoạt của họ trong không gian làm cơ sở thiết kế. Việc thiết kế cũng cần thỏa mãn các nhu cầu cơ bản và các nhu cầu bậc cao của con người.

KGCC không chỉ là những không gian vật chất cố định với các chức năng cụ thể được thiết kế có chủ đích, mà còn là không gian do người sử dụng tạo ra (Koh 2007). Trên thế giới cũng đang có một cuộc cách mạng trong tư duy và cách tiếp cận vấn đề để khai thác tính xã hội, sinh động, linh hoạt, bền vững…trong không gian đô thị. Cho nên chúng ta cần thay đổi tư duy từ thiết kế không gian sang tạo dựng nơi chốn (place-making). Khi đó, nguồn lực cho KGCC không chỉ trông chờ ở nhà nước mà có thể huy động ý tưởng, tài chính, vật tư và công sức của cộng đồng cùng với trách nhiệm và sự gắn bó của họ với không gian nữa, đó chính là cơ sở để hình thành nên các “nơi chốn”./.

PGS.TS.KTS. Phạm Thúy Loan 
Phó viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia – Bộ Xây dựng
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam

Khi bàn về những bất cập như đã nói trên, có nhà chuyên môn cho rằng, Nhà nước cần phải ban hành đầy đủ hơn về các văn bản quy phạm và tiêu chuẩn thiết kế đô thị. Song, tôi cho rằng, cái gốc của vấn đề không phải là sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn. Chúng ta đều biết rằng, khảo sát địa chất công trình, thiết kế đô thị là một lĩnh vực động và linh hoạt, nó không giống như thiết kế cơ khí hay những hạng mục công trình xây dựng để có thể dễ dàng chuẩn hóa. Nó rất đa dạng và khác nhau, tùy thuộc vào từng nơi chốn với những không gian cụ thể và tại các vùng miền khác nhau. Sự khác nhau còn là nhân tố khuyến khích để tạo nên những đô thị có bản sắc. Nếu có thêm các tiêu chuẩn quy phạm, hướng dẫn thiết kế thì cũng chỉ nên là những yêu cầu cơ bản và dừng lại ở những nguyên tắc chung mà thôi.

Trong Thông tư “Hướng dẫn về nội dung thiết kế đô thị số 06/2013/TT-BXD - ngày 13/5/2013” của Bộ Xây dựng - là một hướng dẫn khá đầy đủ và rõ ràng. Từ “yêu cầu chung về thiết kế đô thị”, từ “thiết kế đô thị trong đồ án quy hoạch chung”, “thiết kế đô thị trong đồ án quy hoạch chi tiết” đến “thiết kế đô thị trong đồ án thiết kế đô thị riêng”. Đây là một thông tư với những nội dung hướng dẫn rất mở, không có gì là ràng buộc, làm khó cho các nhà chuyên môn. Vấn đề còn lại là trách nhiệm của những người trong cuộc.


Trong quy hoạch xây dựng nói chung, không riêng gì ở Việt Nam mà ở đâu cũng vậy, đều phải trải qua các giai đoạn, các bước thiết kế, từ tổng thể đến chi tiết, từ định hướng đến cụ thể hóa. Đây là một nguyên tắc kinh điển trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng. Với chuỗi hệ thống các bước công việc này sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là chất lượng của thiết kế đô thị. Bởi tính dây chuyền của hệ thống thiết kế - Bước sau là sự kế thừa các nghiên cứu của bước trước. Chính vì vậy, nên chất lượng nghiên cứu của các bước đều cần được đầu tư chuyên môn một cách thỏa đáng. Tránh tình trạng khi bước sau phát hiện ra những sai lầm của bước trước (ở Việt Nam) cũng không dễ dàng được thay đổi, bởi đồ án quy hoạch ở bước trước trở thành pháp lý.

Kinh nghiệm thực tế về công tác tư vấn thiết kế xây dựng trong giai đoạn vừa qua, có một số vấn đề cần được trao đổi như sau:

- Chính quyền ở một số địa phương đôi khi còn quá cứng nhắc, khi có những kiến nghị điều chỉnh quy hoạch (tất nhiên, phải là những kiến nghị đúng đắn về học thuật, mang lại lợi ích cho xã hội đô thị). Chúng ta đều biết, quy hoạch là một phạm trù động, tầm nhìn ở mỗi một thời điểm có thể có những nhận thức khác nhau. Nên cần có trách nhiệm xem xét một cách cẩn trọng.

- Rất nhiều các đồ án quy hoạch chung còn chưa thỏa mãn được đầy đủ các yêu cầu tự thực hiện. Cho dù là bước tổng thể, song cũng rất cần một sự đầu tư nghiên cứu kỹ càng và có chiều sâu. Ngay từ bước đầu này, đã cần một đội ngũ chuyên gia giỏi về các lĩnh vực chuyên môn, đặc biệt rất cần sự tham gia của các kiến trúc sư giỏi về thiết kế công trình đối với các đồ án quy hoạch chung.

- Do đặc thù của các bước thẩm duyệt sản phẩm của đồ án quy hoạch. Bước sau thường được thực hiện bởi các cá nhân và tổ chức tư vấn khác, nên đôi khi cũng không hiểu hết được ý đồ của nhà tư vấn trước. Trong giai đoạn vừa qua, rất nhiều địa phương chuộng tư vấn nước ngoài làm quy hoạch, mặc dù họ không phải là những người hiểu Việt Nam và địa phương lắm. Họ thường thuê các tổ chức tư vấn của Việt Nam triển khai tiếp phần thiết kế ý tưởng (concept) mà họ đã được chính quyền địa phương phê duyệt. Là người làm thuê lại, nên các tư vấn Việt Nam cũng chỉ triển khai một cách thụ động tất cả những gì mà đồ án ý tưởng đã nêu. Chính vì vậy thiếu chiều sâu và dù là tư vấn nước ngoài thiết kế, song cũng không mấy thành công.

- Cần khuyến khích và coi trọng các dự án quy hoạch, tất cả các bước nghiên cứu, từ bước ý tưởng ban đầu, đến bước khả thi cuối cùng của dự án là cùng một tác giả, để đề cao tinh thần trách nhiệm, bảo đảm tính chuyên sâu và đồng nhất về phong cách. Đối với các dự án có quy mô lớn, được triển khai bởi nhiều tổ chức tư vấn, song vai trò của tổ chức tư vấn có đồ án ý tưởng được phê duyệt phải có trách nhiệm đến cùng trong quá trình triển khai các bước tiếp theo. Trên thực tế, các cơ quan quản lý của chính quyền địa phương cũng không thể làm tốt sự kết nối này được. Chỉ có tác giả của nó mới giữ được cái hồn của dự án.


- Trong một giới hạn không gian đô thị nào cũng vậy, đều có 2 loại đất: đất có chủ (đối tượng sử dụng đất này thuộc về chủ đất) và đất thuộc về cộng đồng. Nếu không có một nhận thức đúng đắn và tinh thần trách nhiệm vì tương lai của đô thị, 2 loại đất này thường rơi vào 2 tình trạng như sau: trong phạm vi đất có chủ, thường là hình ảnh thực dụng và ích kỷ, kém về kết nối với môi trường xung quanh. Trong phạm vi đất thuộc về cộng đồng, thường là hình ảnh sơ sài và thiếu chu đáo kỹ càng, có thể dễ dàng nhận thấy, các sản phẩm đô thị trong phạm vi đất này, kinh phí dành cho nó đã không được dự trù và đầu tư một cách thỏa đáng. Do vậy, với cả 2 tình trạng này làm sao đô thị của chúng ta đẹp được.

Trong đô thị của chúng ta hiện nay (như Hà Nội), cụ thể là câu chuyện về những ngôi nhà xấu, ngôi nhà siêu mỏng là hệ lụy của việc mở đường qua các khu dân cư. Các dự án này, hầu như chỉ mới làm được một việc là có con đường giao thông, còn hình ảnh về kiến trúc hai bên của tuyến đường này như thế nào, xử lý những ngôi nhà siêu mỏng ra sao thì vẫn chưa được quan tâm giải quyết. Tất nhiên, không phải không có cách giải quyết. Rõ ràng cần nhìn nhận đúng đắn cũng như cách làm mang tính khoa học của những người trong cuộc của dự án này. Họ thi hành công vụ làm đường như một cái máy, không hề có sự rung động gì về thiết kế đô thị.

- Trong các cơ sở đào tạo, chương trình giảng dạy chuyên sâu về thiết kế đô thị cũng chưa được quan tâm một cách thấu đáo. Phần lớn các môn học và các đồ án trải nghiệm với sinh viên mới chỉ đạt tới ngưỡng của những khái niệm. Trong khi, thiết kế đô thị lại là một phạm trù vừa cần có một tầm nhìn chiến lược, lại vừa phải rất cụ thể đến từng viên gạch của hệ đường đô thị. Vậy làm sao đây! Khi đội ngũ những con người này là lực lượng cốt lõi để tạo nên hình ảnh đô thị của chúng ta. Kinh phí dành cho những chuyến trải nghiệm, học hỏi kinh nghiệm trong các đô thị ở nước ngoài, cũng không đến lượt những người hàng ngày phải trực tiếp làm tư vấn thiết kế, thi công xây dựng nhà phố hay trực tiếp thụ lý hồ sơ thẩm duyệt. Phần lớn dành cho chuyến đi của các lãnh đạo - những người không trực tiếp với những công việc này! kết quả là, cảm xúc và kiến thức của người được trải nghiệm, không thể chuyển hóa được vào trong các đồ án quy hoạch đô thị của chúng ta.

“Thiết kế đô thị – một lĩnh vực động và linh hoạt. Nó không giống như thiết kế cơ khí hay những hạng mục công trình xây dựng để có thể dễ dàng chuẩn hóa, nó rất đa dạng và khác nhau, tùy thuộc vào từng nơi chốn với những không gian cụ thể và tại các vùng miền khác nhau. Sự khác nhau còn là nhân tố khuyến khích để tạo nên những đô thị có bản sắc. Nếu có thêm các tiêu chuẩn quy phạm hay hướng dẫn thiết kế cũng chỉ nên là những yêu cầu cơ bản và dừng lại ở những nguyên tắc chung”.

quy-chuan-trong-quy-hoach-thiet-ke-do-thi-hien-nay

Thiết kế đô thị khu công viên Marina Bay Sands, Singapore

Thực trạng quy hoạch thiết kế đô thị


Ngay sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, công cuộc xây dựng trên khắp các đô thị ở nước ta có cơ hội được phát triển với một tốc độ nhanh, quy mô rộng lớn và khá toàn diện trên hầu hết các khía cạnh của không gian đô thị. Một số năm sau đó, vẫn chưa thấy đô thị của chúng ta đẹp hơn mặc dù sự “thay da đổi thịt” là có, từ các khu đô thị mới đến các khu phố cũ cũng đều được chỉnh trang hoàn thiện…

Trước vấn đề này, nhiều hội thảo về thiết kế đô thị đã được mở ra. Có ý kiến cho rằng, chúng ta đã một thời hiểu không đúng về thiết kế đô thị, xem thiết kế chi tiết của đồ án quy hoạch là bước cuối cùng để hình thành việc thực thi mọi yếu tố kỹ thuật và cảnh quan đô thị. Đây là những ý kiến có những phát hiện đúng.

Thiết kế đô thị là một lĩnh vực chuyên sâu. Nó cần được xác định một cách chủ động ngay từ bước ý tưởng quy hoạch chung của đồ án quy hoạch. Không thể chỉ là sự định hướng bằng những chi tiết thiết kế điển hình của bước quy hoạch chi tiết. Đây phải là bước cụ thể hóa một cách toàn diện từ các vấn đề của không gian tổng thể, của hệ thống hạ tầng đô thị đến các chi tiết của cảnh quan đô thị. Đây là bước phải hình thành đầy đủ một hệ thống hồ sơ, đáp ứng một trình tự kế hoạch xây dựng và dự toán chi tiết của khu vực thiết kế.

Sự đồng thuận về nhận thức, trong sự thiếu hụt và kém sâu sắc về thiết kế đô thị, từng bước đã đưa các vấn đề chuyên môn này, vào Luật Quy hoạch đô thị, vào Quy chuẩn quy hoạch xây dựng, vào các Nghị định của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn về thiết kế đô thị của Bộ Xây dựng. Như vậy có thể thấy rằng, về khung pháp lý, thiết kế đô thị đã được chỉ rõ để giới chuyên môn, các nhà quản lý có căn cứ để vận dụng thi hành.

Chúng ta đều biết rằng, thiết kế đô thị không thuần túy chỉ là những gì mà người ta nhìn thấy hàng ngày. Nếu được xem xét một cách bài bản, thiết kế đô thị còn được bắt nguồn từ những luận cứ vĩ mô và sâu xa như kinh tế đô thị, xã hội học đô thị… Song cái kết quả cuối cùng của thiết kế đô thị lại chính là cái mà người ta cảm thụ được, nó hiện hữu hàng ngày trong môi trường sống của đô thị. Nó tác động vào con người trong mọi khoảng không gian và thời gian, chính vì vậy nó là vấn đề hết sức nhạy cảm. Đâu có những con đường trải dài nối tiếp nhau, cả khi thay chiều đổi hướng, với những hàng cây thảm cỏ được chăm chút, chọn lựa kỹ càng. Gạch lát vỉa hè bằng phẳng với những hàng gạch đồng nhất thẳng tắp, lâu lâu lại thấy một nắp hố ga ép mặt ngay ngắn trên mặt vỉa hè. Lại thấy một thùng rác được bố trí tiện dụng đúng chỗ, lại thấy những biển báo, ký hiệu thông tin hướng dẫn cho người đi bộ, và còn những chiếc ghế cho những người già mỏi chân ngồi nghỉ… Chỉ đi trên vỉa hè của những con đường này thôi đã cho người ta cảm nhận ấn tượng về nơi chốn, con người cảm thấy được nâng niu, chăm sóc và trân trọng.

Trong các đô thị của chúng ta, những điều này còn hiếm lắm, hầu hết là hình ảnh của sự vội vàng cho xong, đôi khi còn là sự cẩu thả vô trách nhiệm, phi chuyên môn nghề nghiệp. Và chính chúng đã là nguyên nhân gây nên những tai nạn trên đường đối với cư dân đô thị. Đâu có những quảng trường rộng rãi, với cảnh quan tất cả các góc nhìn đều hấp dẫn, với các công trình điểm nhấn, bố trí xung quanh đều thỏa đáng, đứng ở bất cứ vị trí nào, chỉ cần đưa ống kính lên là có ngay một bức ảnh ưng ý. Chỉ cần nhìn thoáng qua không gian quảng trường, đã có thể hiểu ngay ý đồ của nhà thiết kế, biết rằng họ đã dự tính cho nơi đây những hoạt động của cộng đồng như thế nào, trong các khoảng thời gian trong ngày và hàng tuần, cũng như trong các dịp lễ hội cần thiết. Những điều này, trong các đô thị của chúng ta, cũng còn hiếm lắm, nó dường như là một sự xa xỉ nên rất ít được quan tâm.

Một số khu vực có quảng trường, nhưng nó giống như một khoảng đất kẹt trong phần lưu không của đô thị. Quảng trường phải là một mạng lưới phân bố chủ động trong quy hoạch chung của không gian đô thị. Nó là một khoảng nghỉ, để điều tiết chuyển hóa không gian, làm cho “bản nhạc đô thị” được sinh động và hấp dẫn. “Bản nhạc đô thị” không có các quảng trường khác gì chỉ là một giai điệu buồn tẻ và nhàm chán.

Hình ảnh trong các đô thị của chúng ta, cho thấy công tác quản lý thiết kế đô thị còn rất nhiều bất cập. Hầu hết hình ảnh các tuyến phố, kể cả khu phố cũ và mới, kiến trúc mặt phố giống như một cuộc đại triển lãm về đồ họa quảng cáo. Không còn thấy đâu là kiến trúc, nói gì đến ngôn ngữ kiến trúc và bản sắc địa phương. Phố còn như vậy, nói gì đến kiến trúc ven hồ nước và các dòng kênh trong đô thị. Làm sao để có được những bờ kè được chăm chút ngay ngắn, với những ta luy cỏ mượt mà đẹp mắt. Tất cả những tiểu kiến trúc, những chi tiết kiến trúc ở nơi đây, phải có bàn tay và tâm hồn của các kiến trúc sư chuyên nghiệp. Để kè hồ, kè kênh không chỉ là chức năng thủy lợi. Để cây cầu qua kênh, qua sông không chỉ là chức năng giao thông, để chân cầu, mố cầu không chỉ là bệ đỡ của nhịp cầu, không phải là điểm hẹn để đổ rác xung quanh, phải là những thiết kế có tính thẩm mỹ, có giá trị văn hóa nghệ thuật, thơ mộng và là điểm hẹn của tình yêu.

Có rất nhiều những tồn tại trong thiết kế và quản lý đô thị của chúng ta không thể kể hết được. Đó chính là nguyên nhân mà đa số người dân không thấy đô thị của chúng ta đẹp là như vậy. Câu chuyện về những tồn tại này không chỉ là những vấn đề trong hệ thống các văn bản pháp quy về thiết kế đô thị, mà còn do tính hệ thống của nhiều nguyên nhân sâu xa khác, cần được phân tích lý giải.

Quy chuẩn trong quy hoạch và thiết kế đô thị hiện nay


Khi bàn về những bất cập như đã nói trên, có nhà chuyên môn cho rằng, Nhà nước cần phải ban hành đầy đủ hơn về các văn bản quy phạm và tiêu chuẩn thiết kế đô thị. Song, tôi cho rằng, cái gốc của vấn đề không phải là sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn. Chúng ta đều biết rằng, thiết kế đô thị là một lĩnh vực động và linh hoạt, nó không giống như thiết kế cơ khí hay những hạng mục công trình xây dựng để có thể dễ dàng chuẩn hóa. Nó rất đa dạng và khác nhau, tùy thuộc vào từng nơi chốn với những không gian cụ thể và tại các vùng miền khác nhau. Sự khác nhau còn là nhân tố khuyến khích để tạo nên những đô thị có bản sắc. Nếu có thêm các tiêu chuẩn quy phạm, hướng dẫn thiết kế thì cũng chỉ nên là những yêu cầu cơ bản và dừng lại ở những nguyên tắc chung mà thôi.

Trong Thông tư “Hướng dẫn về nội dung thiết kế đô thị – số 06/2013/TT-BXD – ngày 13/5/2013” của Bộ Xây Dựng – là một hướng dẫn khá đầy đủ và rõ ràng. Từ “yêu cầu chung về thiết kế đô thị”, từ “thiết kế đô thị trong đồ án quy hoạch chung”, “thiết kế đô thị trong đồ án quy hoạch chi tiết” đến “thiết kế đô thị trong đồ án thiết kế đô thị riêng”. Đây là một thông tư với những nội dung hướng dẫn rất mở, không có gì là ràng buộc, làm khó cho các nhà chuyên môn. Vấn đề còn lại là trách nhiệm của những người trong cuộc.

Trong Quy hoạch xây dựng nói chung, không riêng gì ở Việt Nam mà ở đâu cũng vậy, đều phải trải qua các giai đoạn, các bước thiết kế, từ tổng thể đến chi tiết, từ định hướng đến cụ thể hóa. Đây là một nguyên tắc kinh điển trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng. Với chuỗi hệ thống các bước công việc này sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là chất lượng của thiết kế đô thị. Bởi tính dây chuyền của hệ thống thiết kế – Bước sau là sự kế thừa các nghiên cứu của bước trước. Chính vì vậy, nên chất lượng nghiên cứu của các bước đều cần được đầu tư chuyên môn một cách thỏa đáng. Tránh tình trạng khi bước sau phát hiện ra những sai lầm của bước trước (ở Việt Nam) cũng không dễ dàng được thay đổi, bởi đồ án quy hoạch ở bước trước trở thành pháp lý.

Kinh nghiệm thực tế về công tác quy hoạch xây dựng trong giai đoạn vừa qua, có một số vấn đề cần được trao đổi như sau:

– Chính quyền ở một số địa phương, đôi khi còn quá cứng nhắc, khi có những kiến nghị điều chỉnh quy hoạch (tất nhiên, phải là những kiến nghị đúng đắn về học thuật, mang lại lợi ích cho xã hội đô thị). Chúng ta đều biết, quy hoạch là một phạm trù động, tầm nhìn ở mỗi một thời điểm có thể có những nhận thức khác nhau. Nên cần có trách nhiệm xem xét một cách cẩn trọng;

– Rất nhiều các đồ án quy hoạch chung còn chưa thỏa mãn được đầy đủ các yêu cầu tự thực hiện. Cho dù là bước tổng thể, song cũng rất cần một sự đầu tư nghiên cứu kỹ càng và có chiều sâu. Ngay từ bước đầu này, đã cần một đội ngũ chuyên gia giỏi về các lĩnh vực chuyên môn, đặc biệt rất cần sự tham gia của các kiến trúc sư giỏi về thiết kế công trình đối với các đồ án quy hoạch chung;

– Do đặc thù của các bước thẩm duyệt sản phẩm của đồ án quy hoạch. Bước sau thường được thực hiện bởi các cá nhân và tổ chức tư vấn khác, nên đôi khi cũng không hiểu hết được ý đồ của nhà tư vấn trước. Trong giai đoạn vừa qua, rất nhiều địa phương chuộng tư vấn nước ngoài làm quy hoạch, mặc dù họ không phải là những người hiểu Việt Nam và địa phương lắm. Họ thường thuê các tổ chức tư vấn của Việt Nam triển khai tiếp phần thiết kế ý tưởng (concept) mà họ đã được chính quyền địa phương phê duyệt. Là người làm thuê lại, nên các tư vấn Việt Nam cũng chỉ triển khai một cách thụ động tất cả những gì mà đồ án ý tưởng đã nêu. Chính vì vậy thiếu chiều sâu và dù là tư vấn nước ngoài thiết kế, song cũng không mấy thành công;

– Cần khuyến khích và coi trọng các dự án quy hoạch, tất cả các bước nghiên cứu, từ bước ý tưởng ban đầu, đến bước khả thi cuối cùng của dự án là cùng một tác giả, để đề cao tinh thần trách nhiệm, bảo đảm tính chuyên sâu và đồng nhất về phong cách. Đối với các dự án có quy mô lớn, được triển khai bởi nhiều tổ chức tư vấn, song vai trò của tổ chức tư vấn có đồ án ý tưởng được phê duyệt phải có trách nhiệm đến cùng trong quá trình triển khai các bước tiếp theo. Trên thực tế, các cơ quan quản lý của chính quyền địa phương cũng không thể làm tốt sự kết nối này được. Chỉ có tác giả của nó mới giữ được cái hồn của dự án;

– Trong một giới hạn không gian đô thị nào cũng vậy, đều có 2 loại đất: đất có chủ (đối tượng sử dụng đất này thuộc về chủ đất) và đất thuộc về cộng đồng. Nếu không có một nhận thức đúng đắn và tinh thần trách nhiệm vì tương lai của đô thị, 2 loại đất này thường rơi vào 2 tình trạng như sau: trong phạm vi đất có chủ, thường là hình ảnh thực dụng và ích kỷ, kém về kết nối với môi trường xung quanh. Trong phạm vi đất thuộc về cộng đồng, thường là hình ảnh sơ sài và thiếu chu đáo kỹ càng, có thể dễ dàng nhận thấy, các sản phẩn đô thị trong phạm vi đất này, kinh phí dành cho nó đã không được dự trù và đầu tư một cách thỏa đáng. Do vậy, với cả 2 tình trạng này làm sao đô thị của chúng ta đẹp được;

Trong đô thị của chúng ta hiện nay (như Hà Nội), cụ thể là câu chuyện về những ngôi nhà xấu, ngôi nhà siêu mỏng – là hệ lụy của việc mở đường qua các khu dân cư. Các dự án này, hầu như chỉ mới làm được một việc là có con đường giao thông, còn hình ảnh về kiến trúc hai bên của tuyến đường này như thế nào, xử lý những ngôi nhà siêu mỏng ra sao thì vẫn chưa được quan tâm giải quyết. Tất nhiên, không phải không có cách giải quyết. Rõ ràng cần nhìn nhận đúng đắn cũng như cách làm mang tính khoa học của những người trong cuộc của dự án này. Họ thi hành công vụ làm đường như một cái máy, không hề có sự rung động gì về thiết kế đô thị;

– Trong các cơ sở đào tạo, chương trình giảng dạy chuyên sâu về thiết kế đô thị cũng chưa được quan tâm một cách thấu đáo. Phần lớn các môn học và các đồ án trải nghiệm với sinh viên mới chỉ đạt tới ngưỡng của những khái niệm. Trong khi, thiết kế đô thị lại là một phạm trù vừa cần có một tầm nhìn chiến lược, lại vừa phải rất cụ thể đến từng viên gạch của hệ đường đô thị. Vậy làm sao đây! Khi đội ngũ những con người này là lực lượng cốt lõi để tạo nên hình ảnh đô thị của chúng ta. Kinh phí dành cho những chuyến trải nghiệm, học hỏi kinh nghiệm trong các đô thị ở nước ngoài, cũng không đến lượt những người hàng ngày phải trực tiếp làm tư vấn thiết kế, hay trực tiếp thụ lý hồ sơ thẩm duyệt. Phần lớn dành cho chuyến đi của các lãnh đạo – những người không trực tiếp với những công việc này! kết quả là, cảm xúc và kiến thức của người được trải nghiệm, không thể chuyển hóa được vào trong các đồ án quy hoạch đô thị của chúng ta.

quy-chuan-trong-quy-hoach-thiet-ke-do-thi-hien-nay

Không gian quảng trường và trung tâm dịch vụ khu ĐTM Time City, Hà Nội

Thiết kế đô thị giữa những công trình kiến trúc


Trong không gian đô thị, cái mà người ta nhìn thấy, quan sát thấy sẽ vô cùng lớn, lớn hơn rất nhiều trong một giới hạn không gian mà con người có thể tiếp cận được, di chuyển được bằng chính sự vận động của cơ thể mình. Song, khái niệm về tiếp cận chính là bao hàm cả những cảm nhận của con người thông qua thị giác. Chính vì vậy, cảnh quan đô thị xấu hay đẹp, cảm xúc hay không đã bao trùm lên tất cả trong ý thức của cư dân đô thị hay du khách viếng thăm. Điều này cho thấy, người ta có thể nhận biết được kết quả của thiết kế đô thị mọi lúc, mọi nơi và đồng thời từ các chi tiết kiến trúc nhỏ, đến tất cả các phương chiều của không gian đô thị đó, có chăng chỉ còn bị giới hạn bởi bên trong – nội thất của những ngôi nhà có chủ.

Trong cuốn sách nổi tiếng của tác giả JAN GEHL “Cuộc sống giữa những công trình kiến trúc”, cho thấy cư dân đô thị, cuộc sống hạnh phúc của họ không chỉ giới hạn trong ngôi nhà riêng, mà còn chính là khoảng không gian công cộng bên ngoài, giữa những công trình kiến trúc. Bao gồm cả ba loại hoạt động: hoạt động thiết yếu, hoạt động tự chọn và những hoạt động xã hội. Tất cả các hoạt động này kết hợp với nhau để tạo thành các không gian cộng đồng ở thành phố, các khu dân cư đầy ý nghĩa và có sức hấp dẫn. Đối với thói quen sống mở của người Việt Nam, vấn đề này càng trở nên thiết thực và có ý nghĩa quan trọng. Trên các mặt phố của đô thị, không chỉ có các hoạt động xã hội, mà kể cả những sinh hoạt riêng hàng ngày đều dễ dàng phô bày trên đường phố. Nhiều du khách và học giả nước ngoài cho rằng đây cũng là nét hay, đặc sắc và thú vị khi họ cùng được trải nghiệm, hòa nhập vào cuộc sống đời thường của cư dân bản địa và cuộc sống giữa những công trình kiến trúc. Tôi lấy vấn đề này để đặt tên tiêu mục “thiết kế đô thị giữa những công trình” với mong muốn rằng, chúng ta hãy coi trọng và đầu tư thích đáng cho thiết kế đô thị.

Thiết kế đô thị ở nước ta còn chưa có bề dày kinh nghiệm, nên người làm cần giữ tâm và trách nhiệm nghề cao. Từ quy hoạch chính sách chiến lược, từ ý tưởng thiết kế quy hoạch chung đến việc triển khai từng chi tiết nhỏ của đô thị. Từ công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác tư vấn thiết kế, công tác quản lý, thẩm tra phê duyệt và điều hành triển khai thực hiện dự án đến việc xây dựng thi công của các nhà thầu, tất cả đều phải được nghiêm túc thực hiện trong một khung pháp lý đầy đủ, chặt chẽ và chuyên nghiệp. Sự tác thành nên một không gian đô thị là một quá trình, với sự tham gia của rất nhhiều yếu tố con người với nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Nếu có sự sai lầm thì hậu quả của nó là khôn lường và không dễ dàng sửa chữa.

Không ở đâu hình ảnh đô thị lại giống như ở đất nước chúng ta. Sản phẩm đô thị là kết quả của nơi gặp gỡ giữa tư duy của những tư vấn nghiệp dư được thực hiện bởi bàn tay của những nhà thầu chưa chuyên nghiệp. Có thể nói, bất cứ một người công nhân xây dựng nào (thậm chí là nông dân xây dựng) cũng có thể được điều đến để hoàn thiện các sản phẩm của hè đường đô thị. Đa số các nhà thầu còn quan niệm quá dễ dãi, họ cho rằng, những tiểu kiến trúc trên các đường phố là những công việc nhỏ, đơn giản. Nhưng họ không biết rằng, đây lại là những công việc rất tinh tế và nhạy cảm, rất cần thực hiện bởi những người công nhân có kỹ năng và có mắt thẩm mỹ. Chính vì quan niệm thiếu trách nhiệm như vậy nên hầu như chúng ta không có những cơ sở đào tạo tay nghề chuyên sâu cho các loại hình công việc xây dựng trên các hè phố. Tuy chỉ là những bó vỉa bờ hè đường phố, là những viền bờ hàng cây, bồn hoa, bậc cấp, đường dốc lên xuống… tất cả đều tưởng chừng như đơn giản, nhưng không hề dễ chút nào! Nếu vẫn còn cách tư duy, đây là những khối lượng công việc thuộc về “nước sông công lính” thì không thể chấp nhận được, ứng xử như vậy là không có văn hóa.

Trên các tuyến đường, hè phố, rất phổ biến trong các đô thị ở ta, công tác hoàn thiện vừa mới làm xong, lại thấy bật lên đào bới để bổ sung, chỉnh trang, nâng cấp một hệ thống kỹ thuật hạ tầng nào đó. Không rõ công tác kế hoạch, quản lý, phối hợp liên ngành của chính quyền địa phương như thế nào, song hiện tượng này là thường xuyên và khá phổ biến. Đây là những việc làm tùy tiện, gây rất nhiều trở ngại cho cư dân đô thị. Đã như thế lại còn không thể chấp nhận được khi dễ dàng nhận thấy dấu vết của từng đợt thi công này. Đợt làm sau không bao giờ có ý thức hoàn trả lại hè, đường phố như hình ảnh ban đầu của nó. Kết quả là, hình ảnh của những hè đường phố chắp vá, không nhất quán dẫn đến xập xệ, hư hỏng, bong lở, chất liệu hàn gắn tùy tiện. Đây là một cách ứng xử thiếu văn hóa một cách tồi tệ. Trong khi chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ở nước ngoài, chỉ thay thế vài ba viên gạch lát hè đường, người ta đã phải quây diện tích hè đó lại, có biển báo công trường và xin lỗi đã làm phiền cộng đồng, có những người công nhân ăn mặc bảo hộ lao động với những dụng cụ chuyên nghiệp, một cách nhanh chóng thay thế và hoàn trả lại hình ảnh ban đầu, không phân biệt được đâu là mới, đâu là cũ.

Cũng không ở đâu như đô thị ở Việt Nam chúng ta (đặc biệt ở Hà Nội). Một hiện tượng khó có thể chấp nhận được: Hè đường phố vừa mới hoàn thiện xong, chỉ vài ba ngày sau, trước cửa các ngôi nhà mặt phố, hàng loạt các mặt vát nghiêng nối từ mặt đường lên hè đủ các kiểu cách khác nhau, tùy tiện tạo dựng để dễ dàng cho xe lên xuống. Hiện tượng này là tự ý của người dân nhưng không mấy ai nhắc nhở ngăn cấm. Với hình ảnh nham nhở, lủng củng như vậy, đường phố làm sao đẹp được, mặt khác chức năng chênh cao độ giữa hè và đường còn là nơi thoát nước, dẫn vào các hố ga. Chính những việc làm này đã làm cho nước bị ứ đọng, rác bẩn gây mất vệ sinh công cộng. Đây là hình ảnh hiện tại có thể thấy ở bất cứ đường phố nào có dân cư ở Thủ đô Hà Nội.

Trên các hè phố, sự lủng củng cao thấp, thò thụt của các bậc cấp lên xuống trước cửa các nhà dân mặt phố cũng cho thấy sự thiếu quản lý, thiếu thẩm mỹ một cách tệ hại. Điều này ở phố cổ trước đây thời Pháp thuộc không có, còn nay phổ biến ở các khu phố mới. Nguyên nhân do khi cấp phép xây dựng đã không quản lý tốt về cốt nền đô thị, các nhà dân tự ý xác định nền nhà của mình, đề phòng Nhà nước làm đường nâng cốt, những dự phòng khác nhau của người dân đã dẫn đến thảm cảnh này. Mặc dù đây là hiện tượng vi phạm Quy chuẩn xây dựng Việt Nam nhưng chính quyền địa phương trước sau cũng phải bàn với người dân để cải tạo xử lý hiện tượng này.

Kết luận


Ngày nay, cùng với việc hoàn thiện các vấn đề Quy chuẩn Tiêu chuẩn cũng như trong thiết kế quy hoạch xây dựng, xu hướng phát triển đô thị khuyến khích nhiều tới sự tham gia của cộng đồng, có như vậy mới hướng tới được đô thị bền vững. Trong thiết kế đô thị, thi công xây dựng đô thị, với việc gìn giữ tài sản vật chất và tinh thần của đô thị, không thể như những hiện tượng nghịch lý đã nêu ở trên đây.

Một đô thị văn minh và thân thiện là trách nhiệm của tất cả chúng ta, phải là truyền thống của hôm nay và mãi mãi về sau. Cư dân đô thị có thể tự hào về thành phố của mình, khi họ biết chắc chắn trong con mắt của du khách đã cảm nhận được rằng, người dân ở địa phương đã biết ứng xử đầy trách nhiệm với thành phố của mình./.

Nguồn Tạp chí kiến trúc Việt Nam
Theo Ts.Kts Nguyễn Tiến Thuận/ Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Thời gian qua, UTGT trên nhiều tuyến đường xuyên tâm, hướng tâm đang khiến Hà Nội khá lúng túng. Nhiều chuyên gia cho rằng, nguyên nhân sâu xa không chỉ là tình trạng thi công ồ ạt các công trình giao thông tại một số nút giao lớn, mà thực chất là TP đang rơi vào vòng luẩn quẩn: Hạ tầng chạy theo quy mô dân số.

Mạng lưới mất cân bằng

Quản lý dự án đường Vành đai 3 trên cao được đưa vào sử dụng từ năm 2012, cùng với nhiều tuyến, trục xuyên tâm, hướng tâm khác, tuyến cao tốc đô thị này đã phát huy tác dụng, giảm tải đáng kể cho các trục đường dưới thấp. Tuy nhiên, nhìn nhận về thiết kế, vị trí của Vành đai 3, đa số người “có nghề” cho rằng, sớm hay muộn nó cũng sẽ là tác nhân gây UTGT bởi những điểm tách nhập dẫn dòng phương tiện trực tiếp xung phá các nút giao cắt lớn trong một đô thị vốn đang quá tải dân cư và phương tiện.


Về thực trạng chung của mạng lưới giao thông đô thị Hà Nội, TS Đặng Minh Tân - Giảng viên khoa Đường bộ, Đại học GTVT nhận định, Hà Nội mới chỉ đang chú trọng phát triển hạ tầng nội bộ, gồng mình đáp ứng nhu cầu đi lại ngày một tăng cao của cư dân thành thị. Việc xây dựng các tuyến đường xuyên tâm chỉ là giải pháp ngắn hạn, nhất là đường trên cao.

Bởi các tuyến đường này về lâu dài sẽ rất khó đấu nối đồng bộ với các tuyến vành đai, đường sắt đô thị khác đang rục rịch thành hình. Tư vấn xây dựng về nguyên tắc về tĩnh không, đồng bộ hệ thống lưu thông có nguy cơ bị phá vỡ khi các tuyến này giao cắt qua nhau. Mặt khác việc xây dựng các tuyến đường trên cao ở Việt Nam cũng chưa đảm bảo đủ tiêu chuẩn khi thiếu hệ thống tường chống ồn, thiếu phương án giải quyết ô nhiễm khói bụi. Thời gian sẽ cho chúng ta minh chứng cụ thể về độ ồn khủng khiếp ảnh hưởng mạnh mẽ đến cư dân quanh các tuyến đường sắt đô thị đang được gấp rút hoàn thành.

Cần giải pháp chiến lược

Khảo sát địa chất phát triển hạ tầng giao thông nội bộ là cần thiết và không thể chậm trễ, thế nhưng song song với đó, Hà Nội cũng cần gấp rút tìm cách hướng cư dân đến những không gian sinh sống rộng mở bên ngoài. Một trong những giải pháp hàng đầu được các chuyên gia quy hoạch, giao thông đô thị nhắc đến là phát triển hệ thống đường sắt cao tốc nối trung tâm TP với vùng ven và địa phương lân cận. Nếu có những tuyến đường sắt đạt vận tốc từ 50 - 100km/giờ nối trung tâm Hà Nội với Sơn Tây, Mỹ Đức, Sóc Sơn…, xa hơn là Thái Nguyên, Bắc Ninh, Ninh Bình…, thời gian di chuyển từ nơi ở của người lao động, cán bộ, học sinh, sinh viên rút ngắn còn 1 - 2 tiếng đồng hồ, chắc chắn sẽ giúp giảm mạnh mật độ, kiềm chế gia tăng dân số cơ học của Hà Nội. Đường sắt có lợi thế là khả năng vận chuyển lớn, người sử dụng không phải hao phí thời gian, sức lực để lái xe, độ an toàn cao hơn đường bộ. Ở nhiều nước phát triển như Nhật Bản, Pháp, Singapore…, đường sắt từ lâu đã được coi là xương sống của hệ thống giao thông đô thị.

Bên cạnh đó, việc hạn chế xây dựng chung cư cao tầng trong nội thành cũng đang được dư luận quan tâm gắt gao. Nếu chỉ di chuyển các cơ quan, cơ sở sản xuất, trường học, bệnh viện ra ngoại thành mà để cao ốc mọc lên chi chít thì cũng giống như đảo ngược chiếc đồng hồ cát, hướng của dòng chảy lưu thông đổi chiều còn các nút giao cắt, các tuyến hướng tâm vẫn khó lòng thoát khỏi UTGT. Đây cũng chính là lý do khiến các chuyên gia lựa chọn giải pháp chiến lược là phát triển đường sắt cao tốc kết nối Hà Nội với các không gian thông thoáng lân cận.

Đo vẽ địa hình theo nền tảng tài chính của đất nước, của Hà Nội còn hạn hẹp, phải tạm thời lựa chọn những giải pháp ngắn hạn. Thế nhưng những hệ lụy của chúng càng về lâu dài càng nặng nề và khó giải quyết hơn. Yếu huyệt thực sự của giao thông đô thị Hà Nội là sự mất cân bằng, chú trọng phát triển giao thông nội bộ trong khi thiếu tính kết nối với các không gian sinh sống lân cận. Dù có tốn thêm bao nhiêu tiền của, làm thêm bao nhiêu con đường, nếu tốc độ gia tăng dân số không có hạn mức, không được kìm chế thì hạ tầng sẽ như chiếc thắt lưng nới rộng trên vòng bụng to, một ngày sẽ hết mức và bung khỏi bộ y phục đô thị của Hà Nội.

Quy hoạch đô thị khai thác triệt để các tuyến sông, mương, ao, hồ tạo mối liên kết giữa các khu công viên cây xanh tập trung. Đảm bảo quy mô, diện tích hồ điều hòa phục vụ tiêu thoát nước cho khu vực và các phân khu đô thị lân cận.

Đảm bảo tính kết nối và liên tục của hệ thống công viên cây xanh, mặt nước, hình thành các tuyến, trục cây xanh, đi bộ và các trục không gian. Kiểm soát và quản lý xây dựng trong khu vực, đặc biệt là khu vực dọc hai bên sông Nhuệ, không xây dựng các công trình lấn chiếm mặt nước.


Đối với các chức năng đất công cộng, hỗn hợp có quy mô lớn, cần tạo không gian cây xanh, mặt nước tập trung, liên kết với hệ thống công viên cây xanh hạ tầng đô thị.

Đảm bảo hài hòa, thống nhất về hình khối, màu sắc, ánh sáng, hình thức kiến trúc chủ đạo của các công trình kiến trúc; hệ thống cây xanh, mặt nước, quảng trường phải phù hợp với không gian chung và tính chất sử dụng của công trình.

Khu vực quảng trường, không gian mở: tạo lập các không gian xanh, công viên, vườn hoa kết nối với hệ thống cây xanh, mặt nước khu vực... tăng cường hệ thống cây xanh dọc hai bên các tuyến đường và hai bên hệ thống sông, mương.

Quy hoạch hạ tầng đô thị với khu vực dân cư hiện có: Cải tạo chỉnh trang các khu vực làng xóm giữ được đặc trưng truyền thống, bảo tồn các công trình di tích lịch sử, văn hóa tôn giáo. Khu vực dân cư làng xóm hiện có hai bên sông Nhuệ khuyến khích xây dựng có sân trước, trồng cây xanh cải tạo cảnh quan cho khu vực.


Đối với các công trình công cộng, hỗn hợp, cơ quan... Đảm bảo khoảng lùi tối thiểu 6m so với chỉ giới đường hai bên sông Nhuệ, khuyến khích tạo lập hệ thống cây xanh lớn hơn theo quy định và nghiên cứu xây dựng công trình theo hướng xanh, sinh thái, hài hòa và không gian mặt nước khu vực.

Đối với các dự án phát triển đô thị xây dựng theo mô hình sinh thái, xanh, ưu tiên yếu tố cảnh quan, không gian cây xanh, mặt nước.

Quy định kiểm soát về tầng cao và mật độ xây dựng, khoảng lùi xây dựng: Đối với đất công cộng đô thị, hỗn hợp, cơ quan - viện nghiên cứu - trường đào tạo: Mật độ xây dựng tối đa 30%, tầng cao tối đa 3 tầng.

Đối với công trình nằm trong khu vực trọng tâm, trọng điểm: mật độ xây dựng tối đa 30%, tầng cao cụ thể được thực hiện theo dự án riêng được cấp thẩm quyền chấp thuận trên nguyên tắc không xây dựng cao tầng.


Khoảng lùi: tối thiểu 6m đối với đường cấp đô thị, tối thiểu 3m đối với đường cấp khu vực (trừ trường hợp có chức năng sử dụng đặc thù).

Quản lý dự án đất công cộng đơn vị ở, trường học, mầm non: Mật độ xây dựng tối đa 40% (tuân thủ Quy chuẩn xây dựng Việt Nam); tầng cao tối đa 3 tầng. Khoảng lùi tối thiểu 3m so với chỉ giới đường đỏ.

Công viên thực vật - vườn ươm, công viên nông nghiệp: Tầng cao 01 tầng (chỉ xây dựng các công trình phục vụ cho sản xuất, không xây dựng các công trình để khai thác các hoạt động kinh doanh, dịch vụ không phù hợp với chức năng). Mật độ xây dựng được xác định theo từng dự án riêng, được cấp thẩm quyền chấp thuận.

Quy hoạch đô thị của các đô thị Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có từ rất lâu và đóng góp nhiều vào sự phát triển của từng đô thị lớn trong vùng. Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tương hỗ để cùng phát triển này càng thể hiện vai trò quan trọng. Vì thế, rất cần một quy hoạch phát triển đô thị chung cho toàn vùng để có một hướng đi ổn định. Đây là nhận định của nhiều chuyên gia, nhà quản lý tại Hội thảo Cụm Đô thị vùng ĐBSH năm 2015 diễn ra tại TP Thái Bình.

Bao giờ thì quản lý theo quy hoạch?

“Đặc biệt, hướng đến tăng cường công tác quản lý của Nhà nước trong lập và quy hoạch quản lý đô thị theo hướng bền vững” - Định hướng trên không chỉ được nhắc đến tại các Hội thảo Cụm Đô thị vùng ĐBSH gần đây mà đã được nhắc đến rất nhiều lần từ những hội thảo đầu tiên. Có một thực tế, sự liên kết của các đô thị trong cụm phụ thuộc nhiều vàoquan điểm phối hợp của lãnh đạo các đô thị. Nhiệm kỳ lãnh đạo không thể dài suốt cả quá trình phát triển đô thị, vì thế những liên kết này còn rất lỏng lẻo. Một khi có được quy hoạch chung thì nhân sự dẫu có thay đổi nhưng định hướng phát triển sẽ không bị thay đổi. Hiện tại, trong những TP, thị xã vùng ĐBSH, duy chỉ có Hà Nội là đã có quy hoạch chung đến năm 2050, còn lại thì cũng chỉ dừng lại ở mức cố gắng có được quy hoạch hiện tại.


Mặc dù, từ các lần hội thảo trước, các tỉnh trong ĐBSH cũng có nhiều giải pháp để quy hoạch đô thị và có được những hiệu quả bước đầu. Điển hình tại Nam Định, TP này đã thông báo công khai quy hoạch chi tiết 20 phường tới người dân, qua đó ngăn chặn tình trạng tái lấn chiếm xây dựng nhà trái phép, sai phép. Hoạt động này đã hỗ trợ TP Nam Định củng cố 100 tuyến phố văn minh và xây dựng thêm 30 tuyến phố đạt tiêu chí văn minh đô thị... Nhưng thế là chưa đủ, mới chỉ quy hoạch được những cái đã, đang và sắp diễn ra. GS.TSKT Nguyễn Lân - nguyên Kiến trúc sư trưởng TP Hà Nội cho rằng: “Điều quan trọng nhất cho một quy hoạch dài hơi là cái gì “sẽ” diễn ra và diễn ra thì diễn ra như thế nào?”.

Điều quan trọng nhất với cụm đô thị ĐBSH vẫn là việc phải tăng cường tham mưu, đề xuất, có ý kiến với các đơn vị quản lý cùng hệ thống chính trị để có được những quy hoạch, quy định có tầm nhìn, chi tiết để mối quan hệ giữa các đô thị trong vùng thêm bền chặt để cùng phát triển.

Thiết kế mặt bằng được quy hoạch chung dài hơi với những cái “sẽ” diễn ra nằm trong quy định thì lúc đó, tư duy nhiệm kỳ lãnh đạo không còn là rào cản cho sự phát triển dài lâu của các đô thị nữa. Chỉ khi nào các đô thị tại ĐBSH có được một quy hoạch cụ thể cho riêng mình thì mới có thể tạo được những mối quan hệ gắn kết, hữu cơ để cùng phát triển với các đô thị khác. Trong khi đó, Chủ tịch UBND TP Thái Bình Nguyễn Ngọc Ý lại chia sẻ: “Cũng phải biết “anh” (các đô thị bạn - PV) thế nào, định hướng ra sao thì mới biết là có “chơi ” với “anh” được hay không chứ?”.

Thế mạnh riêng, khó khăn chung

Mỗi đô thị trong ĐBSH đều có những thế mạnh riêng để phát triển đô thị. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển ấy, cả 15 TP, thị xã đều gặp một khó khăn chung: Công tác GPMB luôn gặp khó khăn vì cơ chế hỗ trợ, bồi thường chưa được đại đa số người bị thu hồi đất đồng thuận… Khó khăn lớn, hạn chế sự phát triển của các đô thị này lại xuất phát từ những quy định riêng. Đó là việc mỗi đô thị lại có mức đền bù, hỗ trợ, bồi thường khi GPMB theo biểu giá riêng. Cũng với diện tích ấy, công trình xây dựng trên đất như vậy nhưng khi GPMB ở những TP tương đương như Thái Bình, Hưng Yên thì lại có mức hỗ trợ đền bù khác nhau. Chỉ riêng việc không thống nhất này cũng khiến việc GPMB trở nên cực kỳ phức tạp trong thời đại thông tin hiện nay.


Để tạo quan hệ bền chặt cùng phát triển giữa các đô thị ĐBSH thì việc liên kết, tạo sự thống nhất trong các “quy định riêng” (không chỉ vấn đề GPMB), cũng là một phần việc mà các đô thị cần tính đến ngay trong thời điểm này. Đã có những thực tế rất buồn trong việc một số địa phương rút bớt thủ tục, trải thảm đỏ để thu hút đầu tư… trong thời gian qua. Trong mối quan hệ giữa các đô thị tại ĐBSH thì có thể gọi đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Thiết kế cảnh quan đô thị ĐBSH đã linh hoạt đề ra phương hướng hành động hợp lý, bám sát được xu thế phát triển chung của các đô thị. Xây dựng đô thị xanh – sạch – đẹp là chức năng vốn có của quản lý Nhà nước, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Vì vậy, tại hội thảo lần này cũng đã có những đóng góp đáng quý dựa trên những bài học kinh nghiệm thực tế. Đó là việc chú trọng, phát huy vai trò của thôn trưởng, tổ trưởng các tổ dân phố trong việc tuyên truyền và nâng cao ý thức chấp hành quy định của nhân dân…

Quy hoạch đô thị để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật thường chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng diện tích đất xây dựng đô thị. Tuy nhiên thực tế không phải lúc nào cũng được thoả mãn nhu cầu này.

Đất sử dụng vào mục đích xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: Đất xây dựng hạ tầng giao thông; đất xây dựng hệ thống cấp thoát nước; đất xây dựng các trạm xử lý rác thải; đất để bố trí hệ thống cung cấp điện trong đó phải kể đến khoảng cách an toàn lưới điện chiếm một tỷ lệ đáng kể của quỹ đất và đất dành cho nghĩa trang đô thị. Theo tiêu chuẩn và nhu cầu phục vụ đất dành cho từng chuyên ngành có thể tính một cách sơ bộ như sau:


Diện tích đất dành cho giao thông bao gồm giao thông đầu mối, mạng lưới đường phố, giao thông tĩnh cần đảm bảo từ 20%-25%. Diện tích đất dành cho cấp nước đô thị bao gồm mạng lưới cung cấp nước trong đó kể cả khoảng cách bảo vệ an toàn đường ống và hệ thống các công trình xử lý nước tổng diên tích dành cho các công trình cấp nước thường chiếm 1% diện tích đất đô thị.

Diện tích đất dành cho thoát nước vệ sinh môi trường đô thị bao gồm hệ thống đường cống, hệ thống các công trình xử lý nước thải, hệ thống các công trình thu gom xử lý chất thải rắn. Trong đó ước tính diện tích đất dành cho công trình thoát nước đô thị trung bình từ 6-7% diện tích đất đô thị.

Thiết kế mặt bằng với việc xử lý rác theo phương thức chôn lấp tính trung bình 1,0 kg/người/ngày thì diện tích trung bình dành cho bãi chôn lấp rác bao gồm cả khoảng cách ly ước tính khoảng 4% diện tích đất đô thị. Diện tích đất dành cho hệ thống cấp điện và thông tin liên lạc thường chiếm 3% diện tích đất đô thị. Đất dành cho nghĩa trang đô thị, hiện nay nước ta phần lớn vẫn theo phong tục địa táng. Nếu tình trạng vẫn tiếp tục tái diễn như hiện nay thì trong các đô thị sẽ không thể có đủ quỹ đất dành cho công việc hệ trọng này.


Như vậy, đất xây dựng cho hệ thống công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị ước tính tối thiểu chiếm khoảng từ 30-35% diện tích đất đô thị. Rõ ràng cần một nguồn tài nguyên đất khá lớn để phát triển hệ thống dịch vụ đô thị. Quỹ đất dành cho giao thông, tại một số đô thị lớn diện tích đất dành cho giao thông chỉ khoảng 10% là thấp so với các nước ( 20-25%). Qua khảo sát 25 đô thị có tới 1/2 số đô thị có trên 30% đường có bề rộng < 2,5m. Như vậy việc xây dựng đường mới và mở rộng đường cũ là điều tất yếu của tất cả các đô thị trong những năm tới.

Quỹ đất dành cho hệ thống cấp và thoát nước hiện nay hệ thống cấp nước thường đi chung cùng với các hạ tầng khác trên đường phố chính. Công trình xử lý nước cấp trong các đồ án quy hoạch trước đây có tính tới nhưng nhu cầu tăng nhanh nên khi mở rộng công suất của nhà máy thì không có đất để xây dựng mở rộng. Các công trình xử lý nước thải trong nhiều năm trước đây cũng chưa tính đến nên sau này khi phải xây dựng đã không có quỹ đất để xây dựng.

Vấn đề bãi xử lý rác hầu như đô thị nào cũng gặp phải vấn đề nan giải này.Qua số liệu thu thập về xây dựng Bộ chỉ số các đô thị hợp tác giữa UN HABITAT và Hiệp hội các đô thị Việt Nam cho thấy diện tích dùng cho các bãi chôn lấp rác thải là một bài toán khó mỗi đô thị cần phải có giải pháp trong công tác xử lý chất thải rắn để hạn chế thấp nhất việc sử dụng đất đô thị.


Hệ thống mạng điện của các đô thị vẫn còn tình trạng phổ biến xây dựng vi phạm khoảng cách an toàn lưới điện, nhiều nơi rất nghiêm trọng gây mất an toàn đến tính mạng của người dân. Tổng hợp các số liệu thu thập cho kết quả: đất xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của nhiều đô thị ở nước ta mới chỉ chiếm khoảng từ 10-15% đất đô thị, nếu so với yêu cầu cần khoảng (30-35%) thì thực tế mới chỉ đạt từ 1/3 đến 1/2 yêu cầu. Đây chính là khó khăn rất lớn của các đô thị trong tương lai gần.

Thiết kế cảnh quan giải quyết tốt được điều này tạo nên nguồn tài chính cho nhà nước và tạo sự công bằng xã hội. Nhưng cho đến nay chúng ta chưa lí giải được nguyên nhân vì sao, điều gì là khó khăn nhất. Những câu hỏi đó nhiều người đã đề cập nhưng đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị là một trong những thành phần chủ yếu của một đô thị. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phát triển sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động nâng cao chất lượng sống. Ngân hàng Thế giới đã chứng minh rằng nếu tăng 1% cho đầu tư vào xây dựng kết cấu hạ tầng thì cũng sẽ tăng 1% GDP.

Hiệu quả quản lý và sử dụng đất xây dựng kết cấu kỹ thuật đô thị là sự đảm bảo tốt nhất cho quá trình đầu tư xây dựng, cung cấp, khai thác và sử dụng. Để đảm bảo cho kết cấu hạ tầng phát huy tác dụng, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan bảo vệ pháp luật là đặc biệt quan trọng trong việc giám sát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và quy hoạch của kết cấu hạ tầng, đồng thời không thể thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư.

Trước hết phải có một quy hoạch đô thị tương đối hoàn chỉnh - một quy hoạch vừa thể hiện tầm nhìn xa rộng lại vừa phải mang tính khả thi cao, vừa bao gồm cả những đề án ngắn hạn lẫn những đề án dài hạn lại vừa phải hạn chế đến mức thấp nhất khả năng “quy hoạch treo” - được hiểu là kéo dài tiến độ ngoài dự kiến ban đầu, do một trong hai hoặc do cả hai nguyên nhân sau: Quy hoạch không sát đúng, thậm chí sai lầm ảnh hưởng đến phát triển bền vững; Quy hoạch sát đúng bảo đảm phát triển bền vững nhưng không khả thi so với sức chịu đựng của nền kinh tế đương thời.

mot-so-luu-y-ve-phat-trien-quy-hoach-do-thi

Phải có một chính quyền nghiêm minh và chuyên nghiệp. Nghiêm minh là vừa nghiêm vừa minh. Nghiêm được đã khó, minh được càng khó hơn nhiều. Thiếu công tâm, thiếu công bằng thì khó công khai, nghĩa là khó minh. Mà không minh thì làm sao nghiêm được? Làm sao xử lý cho rốt ráo, cho triệt để được? Làm sao tránh được tình trạng chỗ triệt - chỗ để - thiếu nghiêm minh? Muốn nghiêm minh thì cần phải thật sự sâu sát, vì vậy ở đây còn có vấn đề phân cấp quản lý một cách hợp lý.

Nói chung thành phố cần khảo sát địa chất không nên phân cấp cho quận trong quy hoạch đô thị, bởi đặc trưng mà cũng là sức mạnh của quy hoạch đô thị là tính tổng thể, phân cấp cho quận trên lĩnh vực này rất dễ dẫn tới khả năng phá vỡ tính tổng thể ấy; nhưng về quản lý quy hoạch đô thị thì quận lại rất cần được uỷ quyền nhiều hơn để có thể chủ động xử lý và ứng phó trong phạm vi được phân cấp.

mot-so-luu-y-ve-phat-trien-quy-hoach-do-thi

Chuyên nghiệp là có nghề - công tác quy hoạch đô thị trước hết là công việc chuyên môn của những người có nghề, nhưng những người có nghề trên lĩnh vực này lâu nay chỉ được hiểu là các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng. Điều này xuất phát từ lối tư duy kỹ trị. Thật ra ở đây vai trò của các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng rất quyết định nhưng không phải là duy nhất. Trong công tác quy hoạch đô thị rất cần sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các chuyên gia tâm lý học, xã hội học và sử học. 

Nói cách khác ngoài khía cạnh kỹ thuật còn cần chú ý đúng mức khía cạnh văn hóa của vấn đề. Xin nói thêm là nếu chỉ xét riêng theo tư duy kỹ trị cũng không phải mọi việc đã đâu vào đó, bởi trong thực tế thành phố đang rất thiếu và vì thế đang rất cần những chuyên gia thiết kế đô thị (urban design), thậm chí đang rất thiếu và vì thế đang rất cần những chuyên gia quy hoạch đô thị (urban planner).

Phải thực sự mở rộng dân chủ trong đời sống xã hội, hết sức tránh tình trạng “tam quyền phân lập” khi huy động sức mạnh của cả cộng đồng đô thị vào quá trình quy hoạch và quản lý quy hoạch. “Tam quyền” là gì? Đó là quyền được nói, quyền được nghe và quyền được làm. Và thế nào là “phân lập”? Đó là khi người nói rất sôi nổi thật lòng, người nghe càng chân thành chăm chú, người làm cũng hăng hái, nhiệt tình, chỉ có điều ai nói cứ nói, ai nghe cứ nghe, còn ai làm cứ làm, hoàn toàn “phân lập”.

mot-so-luu-y-ve-phat-trien-quy-hoach-do-thi

Tất nhiên đo vẽ địa hình muốn mở rộng dân chủ trong đời sống xã hội thì trước hết phải biết vượt qua thái độ chủ quan của không ít chuyên gia cho rằng quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị là chuyện riêng của những người có nghề, tay ngang không thể tham gia được. 

Thực tế chứng tỏ cộng đồng đô thị không chỉ đưa ra được nhiều ý kiến có giá trị tham khảo mà thậm chí ở một số nước - thông qua hình thức trưng cầu dân ý - đôi khi những ý kiến ấy còn mang ý nghĩa quyết định. Mặt khác như phân tích trên, thành phố không nên phân cấp cho quận trong quy hoạch đô thị nhưng cũng cần mở rộng dân chủ để chính quyền cấp dưới có thể trực tiếp góp ý vào chính cái mà người ta sẽ được giao quản lý.

1. Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 và khoản 2 Điều 24 của Luật Xây dựng thì quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị gồm hai loại, quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 và quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500.

2. Việc phân loại nhằm đáp ứng mục tiêu cụ thể sau đây:

a) Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 là b­ước triển khai của quy hoạch chung xây dựng đô thị, là cơ sở cho việc triển khai lập và quản lý quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/500. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng đô thị và do chính quyền địa phương tổ chức lập.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500

b) Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/500 là triển khai và cụ thể hoá quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000, là cơ sở để lập các dự án đầu tư­ xây dựng, cấp giấy phép xây dựng và quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/500 phải phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000. 

Quy hoạch chi tiết 1/500 của các dự án đầu tư xây dựng để kinh doanh do doanh nghiệp tổ chức lập và chi phí cho việc lập quy hoạch tính vào chi phí của dự án; còn lại các việc khác quy hoạch chi tiết 1/500 do chính quyền địa phương tổ chức lập để phục vụ cho công tác quản lý xây dựng, cấp giấy phép xây dựng.

3. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

Quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm nhiều công tác khác nhau, đó là quy hoạch vùng, quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị. Trong quy hoạch chi tiết có quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000 và quy hoạch chi tiết 1/500.

Trước hết phải làm rõ và phân biệt ý nghĩa mục đích, nội dung nhiệm vụ của quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 và quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500. Đây không phải là sự khác nhau về tỷ lệ bản đồ 1/2000 và 1/500, mà phải hiểu đây là 2 giai đoạn của quy hoạch chi tiết.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500
Quy hoạch chi tiết 1/2000 được lập ra để định hướng quy hoạch cho cả một khu đô thị (khu công nghiệp, khu chế xuất, khu nhà ở, khu du lịch... gọi chung là khu đô thị với mục đích là để quản lý quy hoạch cho cả một khu vực rộng lớn trong đô thị). Nội dung quan trọng trong đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 là xác định mạng lưới đường và quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất phải chỉ ra được các ô phố với các chức năng sử dụng khác nhau, trong đó thể hiện rất rõ các chỉ tiêu của ô phố như diện tích ô đất, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, tầng cao tối đa, tầng cao tối thiểu, chỉ giới đường đỏ, sơ bộ xác định chỉ giới xây dựng (khoảng lùi) của công trình. 

Tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan của đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 chỉ mang tính định hướng, gợi ý bởi vì ở giai đoạn này chưa có thiết kế cơ sở cho các công trình kiến trúc, cho nên chưa xác định thật cụ thể và chính xác thiết kế của các công trình kiến trúc.

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý có đầy đủ điều kiện để cấp chứng chỉ quy hoạch cho bất kỳ một lô đất nào trong khu quy hoạch, và như vậy là hoàn toàn có thể sử dụng đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 để quản lý xây dựng.

Trong khi đó quy hoạch chi tiết 1/500 là phải chi tiết hoá đến từng công trình, quan trọng nhất của giai đoạn này và khác hẳn giai đoạn quy hoạch chi tiết 1/2000 là tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc và cảnh quan. Ở giai đoạn này công trình kiến trúc đưa vào quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 là những công trình có thiết kế cơ sở, có nghĩa là có đầy đủ các yếu tố cần thiết cho một thiết kế công trình như hình dáng, mặt bẳng công trình với đầy đủ kích thước công trình, nội dung các phòng, các bộ phận của công trình, vị trí ra vào lối của công trình, từ đó xác định được mối quan hệ giữa công trình với các yếu tố bên ngoài như sân vườn, đường đi. Đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 chính là cơ sở để lập dự án đầu tư xây dựng.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500

Như vậy quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 không phải chỉ khác nhau ở tỷ lệ, nó là ở hai giai đoạn thiết kế với nội dung, ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, song những văn bản pháp quy hiện hành về lập quy hoạch xây dựng, về chi phí lập quy hoạch lại không có sự phân biệt giữa hai loại quy hoạch chi tiết trên. Xin nêu ra đây một vài điểm trong các văn bản mới ban hành hiện nay:

- Nghị định 08/2005/NĐ - CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng. Như phân tích ở trên, thì quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 là rất khác nhau và mục đích, ý nghĩa của mỗi giai đoạn cũng rất khác nhau. Tuy nhiên, trong Nghị định 08/2005 kể trên, ở phần 3, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị. mục này đã gộp cả 2 loại quy hoạch chi tiết trên để trình bày trong các điều, cụ thể là:

Điều 21: Đối tượng và thời gian lập quy hoạch chi tiết.

Điều này lẽ ra phải nêu được cụ thể đối tượng của quy hoạch chi tiết 1/2000 và của quy hoạch chi tiết 1/500 là gì, khác nhau ở điểm nào. Một loại là để giúp các cấp chính quyền quản lý xây dựng theo quy hoạch (quản lý chỉ giới xây dựng, quản lý về sử dụng đất, quản lý về mật độ...). Một loại là gắn liền với dự án đầu tư xây dựng một khu đô thị.

Điều 22: Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị.

Điều 23: Căn cứ lập quy hoạch chi tiết xây dựng.

Điều 24: Nội dung quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị.

Điều 25: Lấy ý kiến về quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị.

Cả 4 điều này không có gì khác nhau giữa quy hoạch chi tiết 1/2000 với quy hoạch chi tiết 1/500, cả 4 điều trên nên có sự phân biệt giữa hai loại quy hoạch chi tiết.

Mục lấy ý kiến, quy hoạch chi tiết 1/2000 và quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 là rất khác nhau. Trong quy hoạch chi tiết 1/2000 nên lấy ý kiến có tính chất định hướng cho cả một khu vực lớn trong đô thị. Chủ yếu là về mạng lưới giao thông và quy hoạch sử dụng đất và đóng góp ý kiến là cho chính quyền các cấp và các nhà quản lý. Còn trên quy hoạch chi tiết 1/500 thì cần đóng góp ý kiến có tính chất cụ thể và chủ yếu cho các chủ đầu tư dự án.

Riêng điều 26 về hồ sơ thiết kế, tuy có một chút về điểm khác giữa quy hoạch chi tiết 1/2000 và quy hoạch chi tiết 1/500, tuy nhiên cũng chỉ nói rằng đối với quy hoạch chi tiết 1/2000 hồ sơ gồm... đối với quy hoạch chi tiết 1/500 hồ sơ gồm... điều này sẽ làm cho người đọc cảm nhận như quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 là 2 trường hợp khác nhau, chứ không phải là 2 giai đoạn khác nhau và cho 2 đối tượng khác nhau.

Trong Nghị định 08, nên có một mục riêng về quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500, như vậy mới phân biệt một cách rõ ràng cho 2 đồ án này. Nên chăng đưa ra hai tên khác nhau của 2 loại quy hoạch chi tiết này.

Đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 gọi là đồ án quy hoạch chi tiết còn đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 gọi là đồ án quy hoạch xây dựng.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500

Dự án đầu tư xây dựng có nhiều cách phân loại, theo quy mô và tầm quan trọng có dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C, theo tính chất thì có thể phân ra dự án khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu vui chơi giải trí... còn về quan hệ giữa quy hoạch và dự án đầu tư, có thể tạm chia thành hai loại.

Loại thứ nhất là dự án đầu tư xây dựng được lập cho một công trình đơn lẻ nằm trong khu vực quy hoạch. Thí dụ một khu đô thị trong đó có nhiều công trình với những chức năng khác nhau như khách sạn, bệnh

viện, trường đại học, siêu thị. Trường hợp này, mỗi công trình là một chủ đầu tư khác nhau, sử dụng nguồn vốn cũng khác nhau và không làm thiết kế cơ sở cùng một lúc. Trong trường hợp như thế chỉ nên làm quy hoạch chi tiết 1/2000, trong đó chỉ ra các ô đất cho các công trình và các chỉ tiêu quy hoạch cho các ô đất đó, đồng thời xác định chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng cho từng công trình, cao độ khống chế... như vậy là hoàn toàn có thể quản lý xây dựng theo quy hoạch. Sau đó từng chủ đầu tư của từng công trình sẽ tiến hành lập dự án đầu tư xây dựng cho công trình của mình, trường hợp này không nên lập quy hoạch chi tiết 1/500.

Loại thứ hai là Dự án đầu tư xây dựng tương ứng với một đồ án quy hoạch chi tiết 1/500, nghĩa là đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 được lập trên một khu đô thị mà toàn bộ khu đô thị đó là một đơn vị đầu tư, thí dụ như đầu tưu xây dựng một khu chung cư, một khu ký túc xá, một khu trường đại học... Trường hợp này thì nhất thiết phải lập quy hoạch chi tiết 1/500. Dựa trên định hướng của quy hoạch chi tiết 1/2000, đơn vị tư vấn sẽ tiến hành thiết kế cơ sở. Trên cơ sở của thiết kế cơ sở, sẽ lập đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 và dự án đầu tư xây dựng.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500

Chẳng hạn lập dự án đầu tư xây dựng cho một khu chung cư, trong đó có các nhà chung cư cao tầng, các công trình công cộng, khu cây xanh... Trước tiên là căn cứ đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 với những chỉ tiêu quy hoạch đã khống chế, đơn vị tưu vấn lập thiết kế cơ sở cho các nhà chung cư cũng như các công trình công cộng sẽ xây dựng trong khu chưng cư này, trên cơ sở đó tư vấn mới lập quy hoạch chi tiết 1/500. 

Hồ sơ thiết kế cơ sở các công trình kiến trúc và đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 này chính là nội dung quan trọng của dự án đầu tư xây dựng.

Đối với khu công nghiệp, khu chế xuất thì dự án đầu tư xây dựng là dự án đầu tư xây dựng hạ tầng, còn việc đầu tư xây dựng từng công trình nhà máy lại là do từng chủ đầu tư riêng biệt chịu trách nhiệm. Trong trường hợp này cơ quan chủ đầu tư cũng phải tiến hành Lập dự án đầu tư của từng doanh nghiệp sẽ căn cứ vào dự án này để thiết kế xây dựng khu công trình của mình.

Như vậy, một trong những việc phải làm của công tác quy hoạch xây dựng là quy hoạch chi tiết, trong đó quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 là 2 việc rất khác nhau về mục đích, ý nghĩa của đồ án, một việc là phục vụ công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch, một việc là phục vụ trực tiếp cho công tác lập dự án đầu tư xây dựng.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.